Đỗ Lê nghe thấy tiếng động, hắn đẩy cửa thò người vào, nói: "Là Tam đệ về rồi, ta đang bảo đệ ấy đặt cho con chúng ta một cái tên thật hay."
"Nhị tẩu, tẩu gọi đệ có việc gì sao?" Đỗ Mẫn ở ngoài cửa hỏi.
Mạnh Thanh mặt đầy vẻ thẫn thờ, không phải mơ sao? Nàng mệt mỏi nằm vật xuống, nói: "Không có gì, chỉ là mơ một giấc mơ thôi."
Chờ một lát cho bình tâm, nàng lấy lại tinh thần bổ sung một câu: "Ta trong mơ thấy Tam đệ thi đỗ Tiến sĩ, còn là Thám hoa sứ, cưỡi ngựa cao thân dạo chơi danh viên ở Trường An."
Đỗ Mẫn ở ngoài cửa nghe thấy lời này, dù không tin nhưng trong lòng cũng vui như mở cờ, hắn cười nói: "Vậy thì xin mượn lời cát tường của Nhị tẩu, nếu thật sự có ngày đó, đệ nhất định sẽ bái tạ Nhị tẩu ba bái."
Mạnh Thanh không lên tiếng nữa, nàng nhắm mắt hồi tưởng lại những chuyện trong mơ. Giấc mơ này quá kỳ lạ, nàng chưa từng đến Trường An, vậy mà lại mơ thấy cảnh hoàng thành, những bức tường thành sừng sững hoàn toàn khác với những gì nàng từng thấy trên tivi ở kiếp trước, là thật hay là hư ảo?
Sao nàng lại mơ thấy giấc mơ như vậy? Còn cả những lời chỉ trích vu khống nàng nghe thấy trong mơ nữa...
Tiếng bước chân lại gần, Mạnh Thanh mở mắt, một ngọn lửa nhảy nhót, nàng thấy trượng phu Đỗ Lê cầm một cành củi đang cháy châm vào đèn dầu trên bàn. Ánh lửa bùng lên soi sáng khuôn mặt hắn, đôi gò má hóp lại thảm hại. Hắn gầy đi nhiều, khiến sống mũi và xương chân mày càng thêm cao ráo, cả người trông có vẻ góc cạnh hơn trước.
"Sao chàng lại về rồi? Hai mươi ngày dao dịch chẳng phải vẫn chưa mãn hạn sao? Chẳng lẽ sau mùa thu lại còn bắt chàng đi nữa?" Nàng hỏi.
"Bến đò ở trấn Bình Vọng xây xong rồi, quan dịch cho chúng ta về trước, sau mùa thu chắc chắn là phải đi thêm năm ngày nữa cho đủ thời hạn." Đỗ Lê giải thích, hắn đi đến bên giường hỏi: "Sao lại sinh sớm nửa tháng thế này? Ta cứ ngỡ có thể về kịp trước khi nàng sinh."
Mạnh Thanh lúc này mới nhớ ra mình vừa sinh con, quay đầu nhìn lại, một đứa trẻ quấn trong tã lót đang ngủ ở phía trong giường, giống hệt lúc mới sinh, da dẻ vẫn đỏ hỏn nhăn nheo.
"Chắc không phải sinh sớm đâu, có lẽ là tính sai ngày thôi, chắc là mang thai ngay đêm tân hôn đấy." Mạnh Thanh lúc sinh không chịu nhiều đau đớn, nghĩ lại thì đứa trẻ này là "dưa chín cuống rụng", không phải sinh non.
Đỗ Lê nghe vậy thì ho khan một tiếng, hắn hơi ngượng ngùng chuyển chủ đề: "Nàng có đói không? Trong nồi gốm đang hầm món cá vược bốn mang mà nàng thích nhất, ta bưng lên cho nàng nhé?"
"Cá vược bốn mang ở đâu ra thế? Chàng mang về à?" Mạnh Thanh biết rõ bà mẹ chồng của mình dù có phát điên cũng chẳng đời nào nỡ mua cá vược bốn mang cho nàng ăn.
"Ta bắt được ở bến đò trấn Bình Vọng đấy, bắt được ba con." Đỗ Lê nói, "Để ta đi múc canh cho nàng."
"Đợi đã." Mạnh Thanh gọi hắn lại, bảo hắn mang cái bô vào trước.
Đỗ Lê đi ra rồi lại vào, vào rồi lại ra, Mạnh Thanh ăn được canh cá đã là chuyện của một tuần trà sau đó.
Cá vược bốn mang mỗi năm vào mùa thu đông phải bơi về cửa biển để đẻ trứng và vỗ béo, mùa xuân từ biển sâu bơi ngược về cửa sông. Lúc này đang là tháng Ba, cá vược di cư từ nước mặn sang nước ngọt thịt rất tươi ngon, thanh tao ngọt hậu. Mạnh Thanh nếm miếng đầu tiên, lập tức thấy ngon miệng hẳn lên.
Ăn được nửa chừng, đứa trẻ thức giấc, Mạnh Thanh cho con bú, nàng đưa bát đen lớn cho Đỗ Lê: "Chàng ăn đi, thiếp không ăn nữa."
Đỗ Lê thấy nàng nghiêng người vén áo, hắn hốt hoảng đứng bật dậy: "Ta... ta ra ngoài ăn cơm."
Đi đến cửa, hắn lại nói: "Ta ở ngay ngoài cửa thôi, có việc gì thì gọi ta."
Mạnh Thanh cúi đầu "ừm" một tiếng.
Hai người thành thân mới được hai tháng thì Mạnh Thanh phát hiện mình mang thai. Lúc đó nàng ăn gì nôn nấy, không ăn mà ngửi thấy mùi cũng nôn, chỉ trong một tháng mà gầy sọp đi. Lúc nàng cần người chăm sóc nhất lại đúng vào mùa vụ bận rộn, nhà chồng không cắt cử được người chăm nom, nàng bàn bạc với Đỗ Lê rồi dọn về nhà ngoại ở, để cha mẹ chăm sóc, mãi đến khi cái thai được năm tháng mới quay lại Đỗ Gia Loan. Nhưng về chưa đầy một tháng, nàng lại cãi nhau với Đỗ mẫu một trận, tức khí lại về nhà ngoại, sau đó là ở nhà ngoại thì dài mà ở nhà chồng thì ngắn, mãi đến hơn nửa tháng trước sắp sinh mới dọn về.
Ngặt nỗi nàng vừa về được hai ngày thì Đỗ Lê lại phải đi làm dao dịch xa nhà, phu thê xa cách nhiều hơn gần gũi, dẫn đến việc con đã sinh rồi mà vẫn còn ngượng ngùng như vợ chồng mới cưới.
Mạnh Thanh cho con bú xong, Đỗ Lê đem bát canh cá vược đậu phụ đã nguội hâm nóng lại rồi đưa cho nàng ăn tiếp.
"Chàng ăn đi, nhìn chàng gầy đến mức biến dạng rồi kìa. Sắp tới mùa vụ bận rộn, chàng không ăn chút đồ bổ thì thân thể sao chịu thấu?" Mạnh Thanh xót xa cho hắn.
"Ta không sao, ta cái gì cũng ăn được, không thiếu miếng ăn này đâu." Đỗ Lê đón lấy đứa trẻ, một tay đưa bát canh cá vược đậu phụ qua, hắn cười nói: "Ăn đi, ta biết nàng thích món này, cũng ăn hết được mà."
Mạnh Thanh nhìn hắn một cái, Đỗ Lê xua tay: "Mau ăn đi, cứ nhường qua nhường lại canh lại nguội mất."
Mạnh Thanh không nói thêm gì nữa, nàng bưng bát đen lớn húp vài ngụm canh, ăn hết con cá còn lại và mười miếng đậu phụ.
"Nhị ca, huynh ăn cơm chưa?" Giọng Đỗ Mẫn vang lên ngoài cửa.
"Lát nữa huynh đi ngay, các đệ cứ ăn trước đi." Đỗ Lê nói.
"Chúng đệ ăn xong rồi."
Đỗ Lê đặt đứa trẻ đã ngủ say vào phía trong giường, hắn bưng bát không đi ra, hỏi: "Tìm huynh có việc gì sao?"
"Là có chút việc, nhưng việc này có liên quan đến Nhị tẩu. Chuyện là thế này, hồi Tiết Thanh minh, tiệm mã của Mạnh nhị bá có làm ra một đôi ngựa giấy đang phi nước đại, một người đồng môn của đệ tình cờ nhìn thấy, sau khi về nhà hắn liền nảy ra ý định, cũng muốn đặt làm một đôi phi mã để đốt trong lễ giỗ đầu của tổ phụ hắn. Tổ phụ hắn sinh thời rất yêu ngựa, có sưu tầm vài bức danh họa, muốn nhờ Mạnh nhị bá dựa theo con ngựa trong tranh mà làm ra đôi ngựa giấy giống hệt như vậy." Đỗ Mẫn nhìn cánh cửa gỗ đang đóng chặt mà nói.